8.12.2013

Tại sao các ông lớn ở Việt Nam mất thương hiệu?

Do không có thói quen đăng ký tên miền nên rất nhiều “ông lớn” Việt Nam đã mất thương hiệu tại nhiều thị trường lớn.



“Tấm gương” café Trung Nguyên

Trung Nguyên được xem là đã “nổ phát súng” cho “phong trào” mất thương hiệu vì quên không đăng ký.  Năm 2000, Trung Nguyên từng bị công ty Rice Field đăng kí bảo hộ thương hiệu café Trung Nguyên tại Mỹ và WIPO (Tổ chức bảo hộ Trí tuệ Thế giới).

Sau 2 năm thương thảo, Trung Nguyên mới lấy lại được thương hiệu này và Rice Field nhận làm đại lý phân phối Cafe Trung Nguyên tại Mỹ.  Để dàn xếp ổn thỏa, Trung Nguyên đã phải rất vất vả và tiêu tốn hàng trăm nghìn USD để lấy lại tên miền này. Sau đó, càphê Trung Nguyên đã thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu tại hơn 60 nước và lãnh thổ trên thế giới.

Tuy nhiên, mới đây, vấn đề thương hiệu của Trung Nguyên lại một lần nữa “dậy sóng” khi website Trungnguyen.com.au trở thành website quảng bá, giao dịch Highlands coffee. Mới đây, khi đăng ký tên miền này tại Australia thì Trung Nguyên phát hiện Cty The trustee for Hinchliffe Trust đã đăng ký tên miền này và sử dụng dưới hình thức một website giao dịch thương mại.

Không chỉ có vậy, Trung Nguyên tiếp tục để mất thương hiệu café chồn tại Mỹ. Sau khi vụ tên miền thương hiệu Legendeecoffee bị người khác thâu tóm, Trung Nguyên lại có nguy cơ bị chặn đường xuất khẩu café mang thương hiệu Legendee Coffee tại thị trường Mỹ.


Highlands Coffee mua 100% cổ phần của Phở 24

Dù chưa thực sự là “ông lớn” trong giới kinh doanh nhưng việc Phở 24 bị Highlands Coffee thâu tóm là một trong các sự kiện mới nhất, nhận được sự quan tâm nhiều nhất trong thời gian qua.

Giới kinh doanh gần như chỉ biết đến giao dịch M&A giữa Highlands Coffee và Phở 24 khi nó kết thúc với việc 100% vốn cổ phần Phở 24 thuộc về Highlands Coffee. Theo đồn đại, giá giao dịch của thương vụ này là 20 triệu USD.
Tuy nhiên, sau khi mua 100% cổ phần của Phở 24, Highlands Coffee bán lại 50% tổng cổ phần đó cho Jollibee (Philippines, kinh doanh chuỗi thực phẩm, thức ăn nhanh, đã có mặt tại Việt Nam nhiều năm nay).

Vinataba mất tỷ đồng chuộc thương hiệu

Năm 2002, thương hiệu Vinataba – thương hiệu thuốc lá hàng đầu của Việt Nam đã bị P.T. Putra Stabat Industri (một công ty của Indonesia) chiếm đoạt đăng ký tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và 9 nước Asean.

Vinataba đã phải chi đến 1 tỷ đồng cho việc bảo vệ thương hiệu ở nước ngoài. Do có đăng ký thương hiệu từ trước và những cố gắng của Tổng công ty này, ngày 24/1/2003, họ đã giành lại được tên tại Lào.

Tại Campuchia, vào tháng 12/2002, sản phẩm Vinataba của Việt Nam cũng được công nhận. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, đến tháng 3/2003, việc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam có được công nhận là đơn vị sở hữu thương hiệu Vinataba hay không mới được công bố.
Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đã được công nhận là doanh nghiệp có quyền sở hữu thương hiệu Vinataba, Công ty Sumatra không chứng minh được quyền sở hữu của mình đã buộc phải hủy bỏ các sản phẩm mang thương hiệu Vinataba...

Bibica rơi vào tay Lotte

“Cuộc chiến” giành quyền kiểm soát giữa Công ty CP Bánh kẹo Bibica (Bibica) và Tập đoàn Lotte (Hàn Quốc) đã khiến dư luận nổi sóng trong một thời gian. Đại hội cổ đông của Bibica mới đây đã có sự thay đổi lớn về nội dung, đó là Tập đoàn Lotte, cổ đông lớn, đang nắm giữ hơn 38% cổ phần, tạm gác lại chuyện đổi tên Bibica thành Lotte - Bibica vì cho rằng “chưa đến thời điểm chín muồi”.

Thực chất là việc đổi tên đã vấp phải sự phản đối của các cổ đông. Thế nhưng, những người trong cuộc cho biết Lotte đang từng bước thực hiện việc đổi tên và điều này không thể tránh khỏi bởi hiện tại, người của Lotte đang giữ 2/5 ghế trong HĐQT Bibica, kể cả chức chủ tịch HĐQT. Bibica còn là doanh nghiệp (DN) niêm yết nên việc thu gom cổ phiếu rất dễ xảy ra. 
Theo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực này, với việc sở hữu 38% số cổ phần, Lotte nắm chức Chủ tịch HĐQT, đủ để có thể điều khiển, vận hành Cty theo ý mình. Người ta lo ngại trong tương lai, thương hiệu Bibica đứng thứ 2 VN chỉ sau Kinh Đô sẽ bị triệt tiêu hoặc lép vế so với thương hiệu toàn cầu Lotte.

PetroVietnam là thương hiệu của… Mỹ

Nhãn hiệu PetroVietnam của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam vừa bị một doanh nghiệp có tên NGUYEN LAI đăng ký tại Văn phòng Sáng chế và Thương hiệu Mỹ.

Theo quy định của Mỹ, việc đăng ký thương hiệu tại Văn phòng Sáng chế và Thương hiệu Mỹ được thực hiện qua 2 giai đoạn, giai đoạn 1 là loan báo tên, địa chỉ công ty, lĩnh vực hoạt động, thương hiệu hàng hóa... và giai đoạn 2 là công bố nhãn hiệu đã được đăng ký.

Kẹo dừa Bến Tre

Năm 1998, khi đang có doanh số tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc rất cao, nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre của bà Nguyễn Thị Tỏ (tức Hai Tỏ) bỗng sụt giảm nghiêm trong. Qua dò hỏi bà được biết trên thị trường đang có sản phẩm kẹo dừa giả, nhái kẹo dừa Bến Tre.

Bà Tỏ quyết định đi Trung Quốc kiện DN Rừng dừa- DN làm nhái sản phẩm Bến Tre. Tháng 8 năm 2008, bà được biết Công ty TNHH Rừng Dừa đã đăng kí độc quyền nhãn hiệu tại Trung Quốc được 8 tháng, chỉ còn ba tháng nữa là được cấp bằng độc quyền.

Tháng 5 năm 1999, tám tháng sau đăng kí, nhãn hiệu kẹo dừa Bến Tre được cấp bằng độc quyền sáng chế, cho phép lưu hành trên lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời sản phẩm của doanh nghiệp Rừng Dừa được xác nhận là hàng nhái, không đủ tiêu chuẩn lưu hành.

Bà Tỏ đem giấy tờ chứng nhận đến tận Đảo Hải Nam, nơi Rừng Dừa “đóng đô”, thuyết phục nhờ chính quyền địa phương xử lý toàn bộ số sản phẩm giả. Đoạn phóng sự về bà được chiếu trên toàn Trung quốc, đánh dấu thắng lợi của DN “miệt vườn” này.

Nước mắm Phú Quốc cũng gặp sóng gió vì thương hiệu

Nước mắm Phú Quốc bị công ty Viet Huong Fishsauce- Mỹ đăng ký nhãn hiệu độc quyền tại Mỹ và cộng đồng chung Châu Âu, Trung Quốc và Australia.

Hình ảnh thương hiệu mà Cty Việt Hương đăng ký bảo hộ chính xác là có chữ “Phú quốc” kèm logo là hình con cá cơm và bản đồ Việt Nam (có vẽ dấu hiệu chỉ đến vị trí huyện đảo Phú Quốc, thuộc tỉnh Kiên Giang).

Các thông tin này đã được đối tác của Bross và Cộng sự là một công ty luật tại Trung Quốc kiểm tra, xác tín theo yêu cầu. Việc chủ thể nói trên đăng ký nhãn hiệu “Phú quốc và hình ảnh” dưới tên của mình cũng sẽ gây nhầm lẫn nghiêm trọng cho công chúng về nguồn gốc Phú Quốc gắn liền với sản phẩm nước mắm nổi tiếng đang được Việt Nam bảo hộ.

Ngoài ra còn một số các doanh nghiệp khác như võng xếp Duy Lợi, Bi’tis, bánh phồng tôm Sa Giang cũng gặp lao đao với thương hiệu.

 
Tác giả bài viết: caphesach.vn
Nguồn tin: VTC

8.10.2013

Giá cà phê Tây Nguyên chạm 40,5 triệu đồng/tấn



Sáng nay, giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục tăng thêm từ 100-400 nghìn đồng tùy vùng lên 40,1-40,5 triệu đồng/tấn.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Giá cà phê robusta giao tại cảng giá FOB tăng 22 USD lên 1.934 USD/tấn.

Giá cà phê trong nước sáng nay tăng trở lại theo đà tăng của giá cà phê thế giới phiên giao dịch vừa qua.

Trên sàn Liffe tại London, giá cà phê robusta giao tháng 9 tăng 22 USD, tương đương 1,16% lên 1.924 USD/tấn. Giá giao tháng 11 tăng 13 USD, tương đương 0,69% lên 1.908 USD/tấn. Các kỳ hạn khác giá tăng trên 0,4%.

Trên sàn ICE tại New York, giá cà phê arabica các kỳ hạn cũng có phiên tăng thứ 2. Cụ thể, giá giao tháng 9 tăng 0,83% lên 122,05 cent/pound. Giá giao tháng 12 tăng 0,8% lên 124,8 cent/pound. Các kỳ hạn khác giá tăng trên dưới 0,8%.

Giá cà phê thế giới phiên này tiếp tục được hưởng lợi nhờ thông tin Brazil, nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới tuyên bố chính thức sẽ mua 3 triệu bao 60kg cà phê với giá cao hơn giá thị trường thông qua hợp đồng tùy chọn để hỗ trợ người trồng, khi mà giá arabica đang xuống gần mức thấp nhất 4 năm.
Nguồn tin: Báo Dân Việt

8.08.2013

Giới thiệu Tập đoàn An Thái


AnTháiGroup là Tập Đoàn kinh doanh đa ngành nghề với hoạt động chính là sản xuất – kinh doanh các sản phẩm cà phê. Tập Đoàn bao gồm năm công ty thành viên, với ba công ty hoạt động sản xuất bên cạnh hai Công ty chuyên làm nhiệm vụ kinh doanh, phân phối, xuất khẩu và ngành nghề khác. Với chiến lược phát triển trên 3 lĩnh vực nòng cốt là Sản xuất Cà phê – Sản xuất phân bón sinh học – Kinh doanh nội địa và xuất khẩu, Tập đoàn An Thái đã tạo cho mình một thế đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước. Nhờ nền tảng nội lực tốt, quy trình sản xuất hiện đại - chuyên nghiệp, chủ động trong nguyên liệu đầu vào cùng với quản trị doanh nghiệp bài bản, Tập đoàn An Thái  luôn khẳng định được vị thế của mình trong những ngành hàng An Thái Group tham gia.

Hãy trả lại tên Cà phê Mocha cho em

Moka khởi nguyên là tên của thành phố cảng Mocha ở Yemen. Quay trở lại thời xa xưa, người ta tin rằng trong chuyến đi đầy sóng gió của Giáo sĩ Marco Polo (1254-1324) từ Châu Âu đến với thế giới Ả Rập, đoàn tùy tùng của ông đã buộc phải lên bờ để tiếp thêm lương thực và nước uống tại Ṣūr (thuộc Tyre, Lebanon ngày nay), bởi thuyền của ông đã không được cung cấp đủ chỗ chứa nhiều nhu yếu phẩm trên tàu.
Trên thị trường nơi đây Polo nhận thấy một người Yemen mang cà phê từ Mocha đến bán, ông đã mua một số và trở về Châu Âu với cùng nhiều thứ hàng hóa khác. Tuy nhiên hạt cà phê Mocha vẫn chưa được biết đến rộng rãi ở Châu Âu vào thời ấy mà phải đợi cho đến thế kỷ 17.
Vị trí cảng Mocha bên bờ Biển Đỏ
Vị trí địa lý của quê hương hạt Mocha ở Yemen
Trong khoảng năm 1595 một Giáo sỹ Dòng Tên là Pedro Páez, được cho là người đầu tiên nếm thử cái vị cà phê Mocha nổi tiếng ấy, thuật ngữ “Cà phê Mocha” liên kết với cái tên Socola và biến thành hỗn hợp Coffee-Chocolate thì đúng là một kết quả của sự ảnh hưởng từ Châu Âu, chứ người dân Mocha không trồng mà cũng chẳng nhập Socola. Nhờ vị trí đặc biệt như nằm ngay trong cái miệng của Biển Đỏ, mà thành phố cảng Mocha thời ấy nhộn nhịp bởi sự giao lưu hàng hóa, nơi ăn ở nghỉ của các đội tàu giữa các nước trong vùng Ấn độ dương – châu Á nối với Lục địa Đen.
Chúng ta đã biết giống cà phê nói chung đã theo chân của đoàn quân viễn chinh Pháp khi vào Việt Nam, vào thế kỷ 19, những nhà Nông học Pháp thời đó thật là tinh tế và nhạy bén khi họ chọn trồng giống cà phê Mocha trên những đồi núi chập chùng của Cao nguyên Lâm Viên, trong cùng một độ vĩ là 12 và độ cao cũng trong tầm 1500-1600m trên mặt biển như  chính trên quê hương của hạt Mocha.
Trong suốt vĩ tuyến ngang tầm với Mocha, Yemen và Đà Lạt, Việt nam, không có một nước nào có địa hình với độ cao trong khoảng 1500-1600m để có thể trồng được cà phê Mocha.
Trong suốt vĩ tuyến ngang tầm với Mocha, Yemen và Đà Lạt, Việt nam, không có một nước nào có địa hình với độ cao trong khoảng 1500-1600m để có thể trồng được cà phê Mocha.
Chúng ta thường gặp rất nhiều nơi quảng cáo bán cà phê Moka, nhưng điều trớ trêu là hỏi ngay cả người bán hạt cà phê Moka hình thù chính xác của nó ra làm sao, thì mỗi người sẽ chỉ cho chúng ta mỗi cách nhận diện khác nhau, còn người uống thì phần lớn chỉ biết cà phê Moka thơm ngon qua lời kể của những hoài niệm xưa và nghe nói nổi tiếng hơn các loại khác, chứ thực sự Moka thơm ngon ra làm sao thì có Trời mới tả cho chính xác.
Chưa nói đến hạt cà phê Moka mỗi vùng trên thế giới có thể to nhỏ, tròn méo, nhiều ít khác nhau, chỉ nói riêng tại Việt Nam thôi, thì loại cà phê này hiện còn rất ít tại Đà Lạt, nguyên nhân chính dẫn đến điều này là vì năng suất của cây Moka rất thấp, sức chống chọi với sâu bệnh kém, cành lá thì xác xơ so với loại Catimor cũng là một chủng thuộc Arabica, nhưng to khỏe cho trái nhiều. Vì thế mà người ta loại bỏ dần loại cây Moka bởi khi mà không ai trả tiền thêm cho sự tinh túy thì dĩ nhiên phải “quý hồ đa, bất quý hồ tinh” vậy.
Hạt cà phê Mocha được trồng ở Cầu đất - Đà Lạt
Hạt cà phê Mocha được trồng ở Cầu Đất – Đà Lạt, thoạt nhìn rất giống với hạt Robusta về màu sắc, nhưng tròn hơn nhiều
Nhiều du khách đến Đà Lạt cũng quyết tìm mua loại cà phê nổi tiếng này, nhiều người bán luôn quả quyết loại của mình đang bán đây mới chính là Moka, cũng vì sự khẳng định loạn xạ này mà oan uổng cho hạt cà phê nổi tiếng, nay đã bị tai tiếng bởi cách nói khởi nguồn từ MOCHA được chúng ta phát âm thành MOKA và rồi nay nói lái mỉa mai thành MACÔ.
Một số người trồng tại Đà Lạt ngày nay đã có ý thức hơn về sự bảo tồn giống cổ, họ vẫn giữ gìn và để xen cho cây Moka phát triển cùng với giống Catimor, tuy không phải tất cả đều được trả công xứng đáng cho một loài cây có năng suất thấp và dễ bị sâu bệnh này.
Hạt cà phê Mocha tại bản xứ Yemen, cũng tròn như con cháu của nó tại Cầu đất - Đà lạt
Hạt cà phê Mocha tại bản xứ Yemen, cũng tròn như con cháu của nó tại Cầu đất – Đà lạt
Với độ cao bình quân trong khoảng 1500-1600m trên mặt biển, lại nằm trong dãy vĩ độ thích hợp nhất là những điều kiện tối cần và là nơi cư ngụ lý tưởng để những cây Moka phát triển, cho ra những hạt có chất lượng thơm ngon không thua kém bất kỳ một loại cà phê có chất lượng cao nào trên thế giới.
Vào khoảng đầu năm 2000, một Công ty Nhật đã lập một dự án đầu tư cho người Nông dân để thuyết phục họ giữ lại giống cây này để cho Công ty sẽ bao tiêu độc quyền tất cả, tuy nhiên sau đó vì nhiều vấn đề mà dự án này đã không thực hiện được, xem ra cũng không dễ gì để gìn giữ của hiếm mà lịch sử và thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta.
Hình thù cà phê Mocha so với các loại khác
Mocha Yemen so với các loại khác – Tuy có xấu xí ngoại hình, nhưng rất “đẹp” ở  nội dung

Theo Y5CAFE.VN
Giá cà phê

8.06.2013

Văn hóa cà phê Thổ Nhĩ Kỳ



Hãy thử khám phá loại cà phê thơm ngon của Thổ Nhĩ Kỳ bởi phong cách pha chế và thưởng thức rất độc đáo.
Văn hóa cà phê Thổ Nhĩ Kỳ
Văn hóa cà phê Thổ Nhĩ Kỳ
Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ có một phong cách pha chế rất quyến rũ và nghệ thuật thưởng thức thú vị. Cà phê ở đất nước này không chỉ là một món đồ uống đơn thuần mà còn mang rất nhiều giá trị văn hóa khác. Ở đất nước này cấm tuyệt đối các thức uống có cồn nên do đó cà phê trở thành một thức uống được ưa chuộng toàn xã hội. Nghi thức cà phê trở nên quan trọng hơn và trở thành một nghi thức không thể thiếu trong một cuộc giao tiếp xã hội, thết đãi quan khách và thậm chí là việc cưới hỏi.
 

Ấm cezve

 
Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu sử dụng loại cà phê Arabica được rang và nghiền nhuyễn ngay trước khi pha chế. Người ta sử dụng một loại ấm pha cà phê đặc biệt gọi là cezve. Bột cà phê được đo lường kỹ, ngâm và đun nóng quan một chiếc khay nhỏ chứa cát và đặt trên bếp, cà phê được đun nóng nhưng không sôi và đủ lâu để cà phê có thời gian cho ra một hương vị thơm ngon và tạo bọt.

Cà phê có thể được hâm nóng hai hoặc ba lần rồi được rót vào cốc, để tạo bọt thật dày khi rót cà phê phải giơ ấm lên cao và rót chậm rãi. Cà phê có thể được pha chế với hạt nhục đậu khấu (cardamom) và bột quế (cinnamon) và một số hương liệu khác để làm phong phú thêm hương vị.

Thưởng thức cà phê Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một cách để thư giãn hoặc rèn luyện tính kiên trì vì cà phê đã rót ra không được dùng muỗng để khuấy mà phải chờ cho bột cà phê lắng xuống hết mới được uống. Và một điều thú vị là sau khi uống xong, người ta thường úp tách cà phê xuống đĩa và xem bói vận mệnh của mình dựa trên phần cặn cà phê ở đĩa, họ gọi đây là phép bói cặn cà phê.
Nguồn tin: Sưu tầm

Văn hóa cà phê thế giới



Cà phê gần như là loại thức uống phổ biến trên toàn cầu, có mặt khắp nơi trên các châu lục. Tuy nhiên, tùy nơi mà “văn hóa cà phê” mang bản sắc riêng. Văn hóa ấy định hình trong cách pha chế, thưởng thức lẫn “tiếp thị” cà phê.
Văn hóa cà phê thế giới
Văn hóa cà phê thế giới
Nhật Bản là quốc gia châu Á mà chúng tôi đề cập đầu tiên như một điển hình của văn hóa cà phê. Hẳn, bạn sẽ ngạc nhiên bởi đất nước mặt trời mọc này vốn nổi tiếng với trà đạo. Nhưng điều đó không có nghĩa là người Nhật không thích cà phê.
Cà phê cũng là một phần trong văn hóa ăn uống Nhật Bản

Lịch sử ghi nhận, lần đầu tiên đất nước Mặt trời mọc biết đến cà phê vào năm 1877. Năm 1888, cửa hàng cà phê đầu tiên của Nhật được khai trương ở quận Ueno, Tokyo. Sau đó, các cửa hàng cà phê bắt đầu mọc lên khắp nơi trên đất Nhật.
Mỗi cửa hàng cà phê đều cố gắng để có được một tách cà phê hoàn hảo phục vụ khách hàng. Có cửa hàng chỉ sử dụng hạt cà phê Kilimajaro hoặc Mocha, quán khác lại có phương pháp pha trộn các loại hạt cà phê khác nhau theo một tỷ lệ nhất định.



Cà phê Nhật thường sử dụng đường tán để pha

Người Nhật cũng vốn xem quán cà phê là nơi lý tưởng để họ nghỉ ngơi, thư giãn, tán gẫu nên kèm theo đó là những loại hình phục vụ khác nhau như cà phê nhạc, cà phê truyện tranh. Ở Nhật, ngành công nghiệp truyện tranh thực sự phát triển nên việc kết hợp giữa cà phê và truyện tranh là điều không hề lạ.
Bên cạnh đó, cà phê Nhật cũng bị ảnh hưởng bởi “cơn lốc Starbucks” – một hệ thống cà phê – bar của Mỹ “đổ bộ” lên đất nước này từ năm 1996, thu hút được rất nhiều khách hàng, đặc biệt là giới trẻ. Một trong những lý lẽ thuyết phục nhất giải thích về sự thành công này là Starbucks đem lại cho khách hàng một không khí thời thượng với những loại cà phê espresso chất lượng.
Nói đến đây, hẳn phải đề cập đến văn hóa cà phê của người Mỹ. Từ năm 1983, nước Mỹ, vốn bị các trí thức Châu Âu gọi mỉa mai là “anh trọc phú” đã xuất hiện hệ thống tiệm cà phê Starbuck, mà chỉ hơn 20 năm sau nó đã trở thành hiện tượng đáng chú ý không những chỉ ở nước Mỹ, mà còn ở các quốc gia có nền văn hóa cà phê lâu đời ở châu Âu.
Người ta có thể đứng xếp hàng mỗi buổi sáng trước 12 ngàn quầy cà phê Starbuck có mặt khắp nơi trên thế giới, từ thành phố Wichita nhỏ bé ở một tiểu bang nông nghiệp quê mùa của nước Mỹ đến những khu phố tráng lệ của nước Anh, đến cả thủ đô Paris, cái nôi của văn hóa châu Âu. Có cái gì đó hơi công nghiệp trong hệ thống cà phê của nước Mỹ vốn thực dụng và lấy lợi ích kinh tế làm đầu nhưng có thể thấy rõ, đây là cái nôi “phân phát” nhiều sản phẩm mà thế giới cần, ngay cả cà phê.
Người Ý yêu cà phê, chẳng ai có thể phủ nhận điều đó. Một chuyên gia nghiên cứu cà phê Ý đã nói: “Không có nước Ý, không có Starbucks. Không có cà phê, nước Ý chẳng thể phát triển được”. Tuy nhiên, cà phê ngon nhất không phải được trồng ở Ý mà là được rang và ướp hương tại Ý. Ở đây, có hai loại cà phê đặc biệt nhất mà bạn không thể bỏ qua khi đến đất nước này là Espresso và Cappuccino.

Cà phê Ý luôn tinh tế, đẹp mắt và nhiều màu sắc
Một ly cappuchino
Một kiểu cà phê kem
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia định hình được cái gọi là văn hóa cà phê. Cà phê Việt thường đậm đặc, pha phin, nhỏ thành từng giọt. Cà phê có mặt khắp nơi, từ vỉa hè, quán cóc đến những nhà hàng, khách sạn sang trọng bởi đó là thức uống của tất cả mọi người. Có tiền và thời gian thì chọn quán sang thưởng thức, bình dân hơn thì chọn quán cóc nhưng điều này không có nghĩa, thưởng thức cà phê quán cóc không thú vị. Dường như, cà phê chưa bao giờ biết phân tầng hay kén chọn đối tượng bởi đó là thức uống “phổ cập”.
Cà phê Việt Nam luôn giản dị và bình dân.
 
Nguồn tin: ST

Triết lý rót cả tâm hồn vào đáy cốc của Starbucks



Starbucks là một thương hiệu nguyên mẫu theo nhiều cách. Bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh hoàn toàn thực tế, một quán cà phê bình dân, và chuyển thành một khái niệm trừu tượng tuyệt vời.
Cà phê Starbucks luôn có sức lôi cuốn kỳ lạ.
Cà phê Starbucks luôn có sức lôi cuốn kỳ lạ.
Scott Bedbury, Phó tổng giám đốc phụ trách marketing của Starbucks đã từng nói: “Người tiêu dung không thực sự tin là có sự khác biệt to lớn giữa các sản phẩm”. Chính vì vậy, mục tiêu của Starbucks là tạo thành một liên kết cảm tính với con người thông qua cái mà Bedbury gọi là “trải nghiêm Starbucks”, điều đã từng được nhắc đến trong một bài báo trên New York Times vào năm 1997.
Quan điểm này được Tổng giám đốc điều hành của Starbucks, ông Howard Schultz, hoàn toàn ủng hộ. “Mục tiêu là tạo thành những giá trị cộng thêm cho một sản phẩm thong thường vẫn được bán ở hành lang của các siêu thị”, ông phát biểu với tạp chí Fortune trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1998, “Starbucks không phải là một xu hướng mà là một phong cách sống”.

Thật ra khi Schultz đến với công ty có trụ sở ở Seattle vào năm 1982, quán cà phê Starbucks đầu tiên đã được thành lập bởi Gerald Baldwin, Gordon Bowker và Zer Siegl từ 11 năm trước đó; và nhiệm vụ của Howard Schultz lúc bấy giờ là hỗ trợ cho việc marketing của công ty này. Sẵn có vốn kiến thức về marketing cho nên không có gì khó hiểu khi ông này thấu hiểu và ủng hộ ý tưởng marketing của Bedbury.

Tuy nhiên, những tham vọng đầu tiên của Howard Schultz đối với Starbucks đã bị Ban quản trị của công ty này ngăn trớ. Sau khi đi thăm và tìm hiểu việc kinh doanh quán cà phê ở Ý vào năm 1986, Schultz đề nghị mở rộng việc kinh doanh với một chuỗi quán Starbucks ở Seattle nhưng đã bị từ chối. Ông lập tức rời bỏ Starbucks và tự mình mở ra một chuỗi quán cà phê tương đối thành công dưới cái tên chung II Giornale, và chính công việc này đã giúp ông gom góp đủ tiền đế có thể mua lại Starbucks vào năm 1987 với giá 4 triệu đô la, với sự hỗ trợ của một số nhà đầu tư địa phương.

Từ đó, Starbucks dần trở nên lớn mạnh từ một quán cà phê để trở thành một vương quốc cà phê. Vào đầu năm 1988, Starbucks mới chỉ có 11 quán với 100 nhân viên, nhưng đến nay họ đã có gần 3.000 quán và khoảng 40.000 nhân viên. Starbucks đã nỗ lực trơ thành cái mà Schultz gợi là “Nơi chốn thứ ba”, có nghĩa là một nơi ngoài mái ấm và chỗ làm - nơi chốn để gặp gờ bạn bè hay để có một khoảng không gian riêng tư cho chính mình.
Cà phê starbucks
Trong cuốn Lessons from the Top (Neff và Citrin, 1999), Howard Schultz đã từng nói về cái cảm giác mà thương hiệu của ông mang lại cho mọi người: “Trong một nhóm được ấn định trước để bàn về tính xã hội của Starbucks. Khi được chúng tôi đặt câu hỏi “Bạn nói chuyện với bao nhiêu người khi ở Starbucks?”, họ đã trả lời“Tôi không nói gì với một ai cả”.

Vì thế chúng tôi hiểu rằng đó chính là điều trải nghiệm từ Starbucks - phần nhạc du dương, bộ phim hấp dẫn, ly cà phê bốc khói lãng mạn và sự tĩnh lặng của tâm hồn”.

Starbucks chỉ là một cửa hiệu được xây bằng gạch vữa, bán một sản phẩm cụ thể (một tách cà phê) nhưng đã được chuyển thành một thứ gì đó có thể mang lại một cảm giác còn lớn mạnh hơn là chí một ly cà phê và một chỗ ngồi.

Ý tưởng này không chỉ đến từ Howard Schultz, mà còn đến từ Bedbury, người trước đó đã từng là một trong những “quân sư” trong chiến dịch quảng cáo nổi tiếng “Hãy hành động” của Nike. Trong số tháng Tám năm 1997 , Fast Company có một bài báo nhan đề “Những thương hiệu lớn hoạt động thế nào?”, Tom Peters đã yêu cầu Bedbury nói về sự tương đồng giữa Nike và Starbucks.

“Nike vực dậy sự liên hệ cảm tính sâu sắc mà con người vẫn có đối với thể thao và sự sung sức. Trong khi Starbucks, Bedbury giải thích, chúng tôi xem xét cà phê liên hệ ra sao với đời sống của con người, và đó chính là cơ hội để chúng ta vực dậy cảm tính của con người với cà phê”.

Starbucks là một thương hiệu phản hiện đại. Nó kích thích sự trải nghiệm tính cộng đồng, một điều cũng có thể gây nghiện như chất cafein trong các ly cà phê. Thương hiệu này sẽ tạo thành một môi trường thậm chí còn tốt hơn là thực tế. Sự trải nghiệm này không phải được tạo nên bởi thế giới quảng cáo hai chiều (Starbucks chi gần 10 triệu đô la cho việc quảng cáo trong suốt những năm 1990) mà là bởi thế giới ba chiều của chính các quán cà phê. Bước vào Starbucks, bạn sẽ trải nghiệm một cảm giác đa chiều với không khí thân hữu của mẫu biểu tượng màu xanh lá, thưởng thức hương vị cà phê với ly cà phê ấm nóng trong tay trong nền nhạc nhẹ nhàng. Mọi khía cạnh đều được suy xét thấu đáo và được sao chép giống hệt như nhau ở khắp các quán Starbucks trên toàn thế giới.

Thay vì dội bom người tiêu dùng với sự tràn ngập của những chiến dịch quảng cáo muôn màu muôn vẻ, chiến lược của Starbucks là nhắm vào những khu vực nhất định và nỗ lực mở ra thật nhiều quán Starbucks như có thể. Chiến lược ngập tràn này đã bị chỉ trích nặng nề bởi những ai chống đối sự toàn cầu hóa, chẳng hạn như Naomi Klein đã viết trong cuốn No Logo:

“Cơ cấu mở rộng nhanh đến mức chóng mặt của Starbucks trong suốt 13 năm qua có nhiều điểm tương đồng với kế hoạch thống trị  thế giới của Wal-Mart, nhiều hơn là những gì mà các giám đốc thương hiệu của chuỗi quán cà phê bình dân này thừa nhận. Thay vì mở một cửa hiệu khổng lồ ở ngoại vi thành phố, Starbucks lại mở một loạt quán ngay trong những khu vực nội ô vốn đã đầy nghẹt các quán cà phê đủ loại. Chiến thuật này phụ thuộc nhiều vào việc tiết giảm chi phí bằng cách mua hàng số lượng nhiều với giá sỉ giống như Wal-Mart và cũng chịu ảnh hưởng nhiều bởi các đối thủ cạnh tranh.

Nhưng dù sao thì chiến lược tràn ngập thị trường này của Starbucks không chỉ đơn thuần là tiêu diệt sự cạnh tranh – mặc dù đó có thể một phần là như thế. Với một thương hiệu như Starbucks, để trở thành một nơi chốn thứ ba của con người hay một điểm hẹn mặc nhiên thì họ cần phải trở thành một phần của đời sống xã hội”.
Trang web: www.starbucks.com
Thành lập: Năm 1971
Xuất xứ: Mỹ
Thông tin thương hiệu:
-    Có hơn 7.500 quán Starbucks trên toàn cầu
-    Là chuỗi quán cà phê lớn nhất thế giới.
-    Starbucks có mặt trên hơn 30 quốc gia.

Coca-cola đã nỗ lực đế có mặt khắp mọi nơi thông qua sự kết hợp giữa quảng cáo tràn ngập và phân phối rộng khắp. Với Starbucks, các cửa hàng của họ chính là hệ thống phân phối. Họ cũng đang tự quảng cáo chính mình: việc mở ra thật nhiều quán trong một khu vực nhất định cũng có tác động như một phương cách quảng cáo tràn ngập trên một số phương tiện truyền thông mục tiêu nào đó. Để được biết đến rộng rãi như Coca-cola (có thể được bán ở bất kỳ nơi nào), Starbucks cũng phải có mặt ở khắp nơi, trở thành một phần trong bức tranh chung về cuộc sống và một phần trong nhận thức của con người. Đương nhiên, mọi việc đều có mặt tiêu cực của nó. Sự tràn ngập này có thế dẫn đến việc nuốt chửng lẫn nhau của chính các quán Starbucks trong cùng khu vực, nhưng các nhà quản lý của Starbucks tin rằng họ có thể điều phối việc nuốt sống lẫn nhau này chính bằng doanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng từ việc đầu tư những quán Starbucks mới.

Vì vậy chiến lược này đã làm tăng trưởng nhận thức về thương hiệu và tổng doanh số, mặc dù cũng làm yếu đi một số quán Starbucks khác. Schultz đã nhìn thấy toàn cảnh lớn hơn nữa với việc mở rộng ra đến những khu vực mới trên khắp thế giới. Đó là một chiến lược có vẻ mâu thuẫn, nhưng chắc chắn cũng là một chiến lược có hiệu quả.

Những bí quyết Thành công của Starbucks:

Cảm xúc. Bộ não marketing của Starbucks, Scott Bedbury, tin rằng thương hiệu tìm cách “đi cùng với những hoạt động lớn nhất để liên hệ với tâm hồn của con người”. Việc này nghe có vẻ quái lạ, nhưng sự nhấn mạnh của Starbucks vào việc xây dựng những mối liên hệ cảm tính chắc chắn là một trong những nguyên do khiến cho nó trở thành một trong những thương hiệu mở rộng nhanh nhất toàn cầu.

Bản sao. Mọi quán Starbucks đều hoạt động theo cùng một công thức, việc này không những giúp cho khách hàng biết rõ mình sẽ được những gì mà còn giúp củng cố tính cách thương hiệu trong tâm trí của công chúng.

Tính cộng đồng. Thương hiệu Starbucks luôn làm nối bật tính cộng đồng. Đây chính là giá trị cộng thêm cho những tách cà phê. Chính quan niệm này đã định nghĩa thương hiệu cũng nhiều như chính sản phẩm nhắm đến. Như Bedbury đã nhận xét: “Người tiêu dung thường không thật sự tin là có một khác biệt rõ rang giữa các sản phẩm”.

Trích cuốn "Brand Royalty - Bí quyết thành công 100 thương hiệu hàng đầu thế giới".

Tác giả bài viết: caphesach.vn
Nguồn tin: Tổng hợp

8.05.2013

Đường lên Buôn Ma Thuột...

Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên và là một trong số 6 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam.Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Cha Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột (A ma là Cha; Thuột là tên Con; người Ê Đê khi có con trai, thì họ gọi nhau bằng tên của con trai mình, ở đây A ma Thuột nghĩa là Cha của Thuột và thường gọi là Cha Thuột) - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Những con đường uốn lượn, nên thơ




 Đất đỏ bazan



. Hoàng hôn Ban Mê












 Cây ven đường




Đường lên Ban Mê đẹp lắm







Lên ban mê kỳ này có thấy hoa cà phê nở không anh?
Hoa cà (trên đó họ gọi cà phê là cà, chắc thói quen của dân xứ Nghệ)
a cà

Nguồn: www.bmtvn.com

8.03.2013

Phạm Đình Nguyên đưa cà phê sạch đến Mỹ thế nào?



Sau khi giành được quyền sở hữu thị trấn Buford, Mỹ vào tháng 4/2012, mới đây (ngày 30/7), ông Phạm Đình Nguyên, chính thức công bố việc đổi tên Burfod thành PhinDeli, đây cũng là tên thương hiệu cà phê 100% Việt Nam siêu sạch, an toàn mà ông sẽ kinh doanh tại thị trấn này.
Phạm Đình Nguyên đưa cà phê sạch đến Mỹ thế nào?
Phạm Đình Nguyên đưa cà phê sạch đến Mỹ thế nào?
Thương vụ thị trấn Buford: Từ cơ duyên đến may mắn của DN Phạm Đình Nguyên

Ông Phạm Đình Nguyên sinh ra và lớn lên tại TP.HCM. Sau khi tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, chàng trai đầy nhiệt huyết này bắt đầu những tháng ngày làm thuê ở nhiều công ty khác nhau: Coca-Cola Việt Nam, Nokia Việt Nam, Công ty CP Hàng gia dụng quốc tế… Trước khi đứng ra thành lập và làm giám đốc Công ty Dịch vụ Phân phối tổng hợp quốc tế (IDS), ông đã giữ vị trí giám đốc toàn quốc kênh hiện đại cho Tập đoàn Kinh Đô.

Chia sẻ về cuộc đấu giá thị trấn Buford vào tháng 4/2012, ông Phạm Đình Nguyên cho biết: Do tình cờ ông đọc được bản tin rao đấu giá thị trấn “nhỏ nhất nước Mỹ” Buford trên VnExpress.net với giá khởi điểm là 100.000 USD, ông bắt đầu quan tâm, tìm lại tin bằng tiếng Anh, qua những bài báo khác.

Thông tin về buổi bán đấu giá thị trấn này đã được đưa lên mạng từ nhiều tháng trước, thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, đến 12g ngày 5/4 (khoảng 1g sáng 6/4 giờ Việt Nam), vị doanh nhân từ TP.HCM đã bay đến thị trấn Buford ngay trong ngày đầu tiên đấu giá và bất ngờ giành chiến thắng với giá đấu thầu 900.000 USD, vượt qua những người mua khác đến từ Hong Kong, New York, Florida, Kansas và Wyoming.
 
Thị trấn Buford rộng khoảng 40.000m2. Tại thời điểm đó, thị trấn chỉ có một cư dân với hạ tầng là một cửa hàng tiện lợi, một trạm xăng, một trạm điện thoại và khoảng 1.000-2.000 lượt người ghé qua mỗi ngày. 
 
Sau khi giành được quyền sở hữu thị trấn Burfod, nhiều ý kiến cho rằng, ông Phạm Đình Nguyên đã trả giá quá cao để có được thị trấn này. Những người khác lại tỏ ra tiếc nuối khi một thị trấn đẹp như Buford lại được bán với mức giá "rẻ mạt". Và phần đông số người lại băn khoăn, không biết ông Nguyên sẽ làm gì ở một thị trấn nhỏ bé, lạnh lẽo như Buford.
 
Đáp trả tất cả những thắc mắc này, khi đó ông Nguyên tiết lộ, ông sẽ dùng Buford như là một bàn đạp tinh thần để giới thiệu các thương hiệu từ Việt Nam. Vị doanh nhân này cũng cho biết:  “Sở hữu một bất động sản tại Mỹ là mơ ước của tôi từ lâu. Khi tôi đọc được thông tin cuộc đấu giá thị trấn Buford này trên mạng, tôi rất hào hứng. Do đó tôi quyết định bay đến Wyoming để tham gia đấu thầu tại chỗ. Đây là một hành trình dài nhưng cuối cùng tôi cũng đến được. Đây là giấc mơ Mỹ”.
 

Triết lý kinh doanh "Không gì là không thể"
 
Theo thông tin mới nhất, doanh nhân Phạm Đinh Nguyên đang tận dụng cửa hàng tiện lợi rộng 200m2 có sẵn tại thị trấn Buford để mở quán cà phê. 


 
Tại đây, ông sẽ pha chế và bán trực tiếp hai nhóm sản phẩm là cà phê siêu sạch và thượng hạng thương hiệu PhinDeli, có trọng lượng 250-500 gam/gói, đảm bảo nguồn nguyên liệu sử dụng hạt cà phê đúng chuẩn, tuyệt đối không sử dụng các hóa chất độc hại tạo mùi, màu...

Để quảng bá cho thương hiệu cà phê này, doanh nhân Phạm Đình Nguyên cho biết, ông không có nhiều tiền để thực hiện theo cách truyền thống  bởi chi phí quảng cáo ở Mỹ rất đắt. Một trang quảng cáo trên báo The Wall Street Journal là gần 500.000 USD. Còn những spot quảng cáo trên tivi thì tính bằng trăm ngàn USD. Theo đó, ông đã tạo ra một câu chuyện hay, hấp dẫn báo chí, Internet, đặc biệt là các mạng xã hội.

 
Sau khi đăng ký với cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) các thông tin chi tiết về công ty và sản phẩm xuất khẩu vào Mỹ. Rồi quá trình sản xuất, lưu kho, cho đến vận chuyển các sản phẩm đều phải được cung cấp cho FDA... Đến nay ông Nguyên đã hoàn tất việc đưa sản phẩm cà phê vào giới thiệu và kinh doanh tại thị trấn này đúng lịch trình.
 
Nói về thương hiệu cà phê PhinDeli, ông Nguyên tiết lộ: Chữ “Phin” là từ đầu tiên trong phin cà phê, một vật dụng pha chế quen thuộc cho thức uống gần như là “quốc hồn quốc túy” của người dân Việt Nam. Còn Deli là viết tắt của chữ “delicious” - thơm ngon.
 
Ngày 30/7, ông Phạm Đình Nguyên chính thức công bố việc kinh doanh thương hiệu cà phê 100% Việt Nam này và xem đây là bước đệm để đưa các thương hiệu cà phê an toàn, chất lượng của Việt Nam ra nước ngoài. Để quảng bá sâu rộng hơn, ông quyết định đổi tên thị trấn Buford thành PhinDeli.



Theo thông tin đăng tải trên Người lao động khi nói về ý tưởng kihn doanh cà phê tại thị trấn nhỏ nhất  nước Mỹ, ông Phạm Đình Nguyên cho rằng: "Sẽ rất buồn cười nếu ai đó biết tôi là người không biết thưởng thức cà phê cũng như không rành về cà phê mà lại làm nên thương hiệu PhinDeli và đưa nó sang đất Mỹ. Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua, ý tưởng về việc đưa một sản phẩm có thế mạnh, đậm nét văn hóa Việt để gắn với Buford luôn ở trong đầu tôi. Tại sao không là cà phê với phong cách pha phin đặc trưng của người Việt. Nó đáng để quảng bá, để giới thiệu với thế giới quá đi chứ!”
 
Cùng với đồng nghiệp là ông Đỗ Quốc Tuấn (người từng làm giám đốc marketing tại Việt Nam cho Tập đoàn Kraft Foods, tập đoàn hàng đầu thế giới về cà phê), ông Nguyên đã bắt tay vào gầy dựng PhinDeli trong sự nghi ngờ của nhiều người bởi sự cạnh tranh của một thị trường cà phê khá khốc liệt. 
 
Tuy vậy, từ ý tưởng “không gì là không thể!” như khi tham gia đấu giá mua thị trấn Buford, ông Nguyên cho biết chính sự khác biệt của PhinDeli về chất lượng, an toàn và với bước đi riêng bởi sự hợp tác của một đơn vị có kinh nghiệm về ngành cà phê hơn 50 năm qua, ông đã tự tin rất nhiều về sự thành công của PhinDeli. Điều gây chú ý là thị trấn Buford sẽ đổi tên thành PhinDeli trong thời gian tới cùng với việc mở kinh doanh sản phẩm PhinDeli trên trang mạng amazon...

Ông Phạm Đình Nguyên cho biết tất cả sản phẩm xuất sang Mỹ hay bán tại Việt Nam của PhinDeli đều có tiêu chuẩn và chất lượng như nhau. Chỉ khác là những dòng sản phẩm cao cấp hơn sẽ được chú trọng xuất sang Mỹ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Cũng theo ông Đỗ Quốc Tuấn, hiện sản phẩm PhinDeli đã có mặt tại một vài siêu thị, dự kiến sẽ mở rộng tại tất cả các siêu thị, chợ, cửa hàng tạp hóa trên cả nước trong thời gian sớm nhất. Đối với thị trường Mỹ, PhinDeli sẽ được giới thiệu cho khách dùng miễn phí tại hệ thống cửa hàng rộng khoảng 200m2 được thiết kế ấn tượng với bức tranh dài 10 m.

Đợt hàng đầu tiên của PhinDeli sẽ có 2 nhóm sản phẩm là siêu sạch (có 3 loại: ngày mới, giọt đắng, moka) và thượng hạng (Gold, Supreme, Espresso). Giá bán trung bình từ 140.000- 360.000 đồng/kg.
Nguồn tin: GDVN